Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2021

Sứ điệp của ĐTC Phanxicô nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội năm 2021

 Ngày 23/1, trước ngày lễ kính nhớ thánh Phanxicô đệ Salê, bổn mạng các nhà báo, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố Sứ điệp nhân Ngày Thế giới về Truyền thông Xã hội lần thứ 55, có chủ đề “Hãy đến và xem” (Ga 1,46). Truyền thông bằng cách gặp gỡ mọi người trong thực tại của họ."

Sứ điệp của ĐTC Phanxicô nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội năm 2021

“Hãy đến và xem” (Ga 1,46)

Truyền thông bằng cách gặp gỡ mọi người trong thực tại của họ



Anh chị em thân mến,

Lời mời gọi “đến và xem” trong những cuộc gặp gỡ đầu tiên đầy cảm xúc giữa Chúa Giê-su và các môn đệ cũng là phương pháp cho mọi cách thông tin đích thực của con người. Để có thể thuật lại chân lý của cuộc sống, điều làm nên lịch sử (x. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 54, 24/01/2020), cần phải vượt ra khỏi thái độ tự mãn, cho rằng chúng ta “đã biết” điều gì đó. Thay vào đó, chính chúng ta cần đi và nhìn thấy chúng, dành thời gian ở bên người dân, lắng nghe những câu chuyện của họ và so sánh với thực tế, điều luôn làm chúng ta ngạc nhiên dưới một khía cạnh nào đó. Chân phước Manuel Lozano Garrido[1] khuyên các nhà báo đồng nghiệp: “Hãy mở mắt ngạc nhiên với những gì bạn thấy, và để cho đôi bàn tay chạm vào sự tươi mát và sinh động của sự việc, để khi người khác đọc điều bạn viết, chính họ cũng có thể chạm vào điều kỳ diệu của cuộc sống.” Do đó, năm nay tôi muốn dành Sứ điệp này để nói về lời mời gọi “hãy đến và xem”, điều có thể là một gợi ý cho mọi cách truyền thông muốn trở nên rõ ràng và trung thực, trên báo chí, trên internet, trong việc giảng dạy hàng ngày của Giáo hội cũng như trong giao tiếp chính trị hoặc xã hội. “Hãy đến và xem!”. Đây luôn là cách mà đức tin Ki-tô được truyền đạt, từ những cuộc gặp gỡ đầu tiên bên bờ sông Gio-đan và hồ Ga-li-lê.

Đi mòn giày

Trước tiên chúng ta hãy suy nghĩ về vấn đề quan trọng của việc tường thuật tin tức. Từ lâu, nhiều người đã than phiền về nguy cơ các tin tức báo chí trên tivi và radio và trang web giống hệt nhau, như những tờ báo photocopy, nơi các phóng sự điều tra ít đi và mất chất lượng, nhường chỗ cho các thông tin “tiền chế”, “đóng gói sẵn”, ngày càng ít khả năng nắm bắt chân lý của sự việc và cuộc sống cụ thể của con người, và càng ít nắm bắt những hiện tượng xã hội quan trọng nhất hoặc những phong trào tích cực ở mức độ nền tảng. Cuộc khủng hoảng của ngành xuất bản có nguy cơ đưa đến việc một phóng sự được viết trong các tòa soạn, trước máy tính và trên mạng xã hội, không bao giờ đi ra đường, không gặp trực tiếp con người để tìm kiếm các câu chuyện hoặc xác minh một số tình huống trực tiếp. Trừ khi chúng ta sẵn sàng với những cuộc gặp gỡ này, chúng ta vẫn chỉ là những khán giả ngoại cuộc, bất chấp những đổi mới công nghệ có khả năng đặt chúng ta trước một thực tại được phóng đại và chúng ta dường như bị đắm chìm trong đó. Mỗi công cụ chỉ hữu ích và quý giá nếu nó thúc đẩy chúng ta đi và xem những thứ mà nếu không đi gặp chúng ta sẽ không biết về chúng, đăng trên internet những tin tức không có sẵn ở nơi khác, cho phép những cuộc gặp gỡ mà nếu không sẽ không bao giờ xảy ra.

Tin Mừng như những câu chuyện mới

Sau khi chịu phép rửa ở sông Giođan, Chúa Giêsu đã trả lời cho những môn đệ đầu tiên muốn biết Người: “Hãy đến và xem” (Ga 1,39). Người mời gọi họ có một mối quan hệ với Người. Hơn nửa thế kỷ sau, khi thánh Gioan, khi ấy đã cao niên, viết Phúc âm của mình, ngài nhớ lại một số chi tiết "đáng là tin tức", những điều cho thấy chính thánh nhân hiện diện ở sự kiện ngài đang thuật lại và chứng tỏ tác động của kinh nghiệm đó trên cuộc đời của ngài: "Đó là khoảng giờ thứ mười", ngài lưu ý, tức là bốn giờ chiều (x. c. 39). Thánh Gioan tiếp tục kể, ngày hôm sau, Philipphê kể cho Nathanael cuộc gặp gỡ với Đấng Mê-si-a. Người bạn của ông hoài nghi và hỏi: "Từ Nazareth làm sao có cái gì hay được?" Ông Philipphê không cố gắng thuyết phục ông Nathanael bằng lý lẽ, nhưng chỉ nói với ông cách đơn giản: "Hãy đến và xem” (x. cc. 45-46). Nathanael đi và nhìn thấy, và từ lúc đó cuộc đời của ông được thay đổi. Đức tin Kitô giáo bắt đầu như thế. Và đây là cách nó được thông truyền: như một kiến ​​thức trực tiếp, nảy sinh từ kinh nghiệm, và không phải từ tin đồn. “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng bởi vì chính chúng tôi đã nghe.” Dân làng đã nói với người phụ nữ xứ Samaria, sau khi Chúa Giê-su dừng chân tại làng của họ (x. Ga 4,39-42). “Hãy đến và xem" là phương pháp đơn giản nhất để biết một thực tại. Đó là sự xác minh trung thực nhất của mọi thông điệp, bởi vì để biết thì chúng ta cần phải gặp gỡ, cần để cho người đứng trước mặt chúng ta nói, để cho chứng tá của họ đến với chúng ta.

Cảm ơn sự can đảm của nhiều nhà báo

Báo chí cũng vậy, như một tường thuật về thực tế, đòi hỏi khả năng đi đến những nơi mà không ai nghĩ sẽ đi đến đó: một sự sẵn sàng lên đường và một mong muốn được nhìn thấy. Một sự tò mò, một sự cởi mở, một niềm đam mê. Chúng ta phải cảm ơn sự can đảm và dấn thân của tất cả những người chuyên nghiệp đó – các nhà báo, nhà quay phim, biên tập viên, đạo diễn, những người thường liều mạng sống khi thực hiện công việc của họ. Nhờ nỗ lực của họ mà bây giờ chúng ta biết, ví dụ như về khó khăn gian khổ của những người thiểu số bị đàn áp ở nhiều nơi trên thế giới; nhiều hành vi ngược đãi và bất công gây ra cho người nghèo và môi trường; rất nhiều cuộc chiến bị lãng quên. Sẽ là một tổn thất không chỉ cho việc tường thuật tin tức, nhưng cho cả xã hội và cho nền dân chủ nói chung, nếu những tiếng nói này yếu đi. Toàn bộ gia đình nhân loại của chúng ta sẽ bị nghèo đi.

Nhiều hoàn cảnh trên thế giới của chúng ta, thậm chí nhiều hơn nữa trong thời điểm đại dịch này, đang mời gọi thế giới truyền thông "đến và xem". Chúng ta có thể có nguy cơ tường thuật về đại dịch, cũng như mọi khủng hoảng, chỉ qua lăng kính của các nước giàu có hơn, không nói hết sự thật. Ví dụ, câu hỏi về vắc-xin và chăm sóc y tế nói chung, có nguy cơ loại trừ những người nghèo hơn. Ai sẽ cho chúng ta biết về mong đợi tha thiết được chữa lành của những người dân ở những ngôi làng nghèo nhất của châu Á, châu Mỹ Latinh và châu Phi? Do đó, sự khác biệt xã hội và kinh tế ở cấp độ toàn cầu có nguy cơ quyết định thứ tự phân phối vắc-xin chống Covid, trong đó người nghèo luôn đứng ở cuối hàng và quyền phổ quát được chăm sóc sức khỏe được khẳng định về nguyên tắc, nhưng hiệu quả thực lại bị tước bỏ. Nhưng ngay cả trong thế giới của những người may mắn hơn, bi kịch xã hội của những gia đình nhanh chóng rơi vào cảnh nghèo đói phần lớn vẫn bị che giấu; việc những người không còn cảm thấy xấu hổ khi xếp hàng trước các trung tâm bác ái để nhận một gói thực phẩm không trở thành tin tức.

Các cơ hội và cạm bẫy của internet

Internet, với vô số biểu thức truyền thông xã hội của nó, có thể gia tăng khả năng tường thuật và chia sẻ: nhiều đôi mắt nhìn thế giới hơn, một dòng thác hình ảnh và chứng từ. Công nghệ kỹ thuật số mang lại cho chúng ta khả năng có thông tin trực tiếp và kịp thời, thường rất hữu ích. Chúng ta có thể nghĩ về những trường hợp khẩn cấp nhất định mà internet tường thuật tin tức đầu tiên và truyền đạt các thông báo chính thức. Nó là một công cụ mạnh mẽ, đòi hỏi tất cả chúng ta phải có trách nhiệm với tư cách là người sử dụng và người tiêu thụ. Tất cả chúng ta đều có thể trở thành nhân chứng của những sự kiện mà các phương tiện truyền thông truyền thống sẽ không để ý tới, đóng góp cho xã hội và làm nổi bật nhiều câu chuyện hơn, bao gồm những câu chuyện tích cực. Nhờ internet, chúng ta có cơ hội để kể những gì chúng ta thấy, những gì xảy ra trước mắt chúng ta, và chia sẻ với người khác.

Đồng thời, nguy cơ thông tin sai lệch được lan truyền trên mạng xã hội đã trở nên rõ ràng đối với tất cả mọi người. Từ lâu, chúng ta đã biết tin tức và thậm chí cả hình ảnh dễ bị thao túng như thế nào, vì hàng nghìn lý do, thậm chí đôi khi chỉ vì lòng tự ái tầm thường. Điều quan trọng ở đây không phải là xem internet là xấu xa, đe dọa, mà là có khả năng phân định cao hơn và ý thức trách nhiệm trưởng thành hơn, đối với nội dung chúng ta gửi cũng như nhận. Tất cả chúng ta đều chịu trách nhiệm về truyền thông mà chúng ta thực hiện, về thông tin chúng ta chia sẻ, về sự kiểm soát mà chúng ta có thể cùng nhau thực hiện đối với tin tức giả, bằng cách vạch mặt chúng. Tất cả chúng ta đều được mời gọi trở thành nhân chứng của sự thật: đi, xem và chia sẻ.

Không điều gì có thể thay thế cái nhìn cuả cá nhân

Trong truyền thông, không điều gì có thể thay thế hoàn toàn việc nhìn thấy trực tiếp. Một số điều chỉ có thể học được bằng cách trải nghiệm chúng. Trên thực tế, người ta không giao tiếp chỉ bằng lời nói, mà bằng mắt, bằng giọng nói và bằng cử chỉ. Sự thu hút của Chúa Giê-su đối với những người gặp Người phụ thuộc vào sự thật trong lời rao giảng của Người; nhưng hiệu quả của những điều Người nói không thể tách rời với cách Người nhìn người khác, cách Người đối xử với họ và thậm chí sự im lặng của Người. Các môn đệ không chỉ lắng nghe lời Người, họ còn quan sát Người nói. Thực vậy nơi Người - Logos nhập thể - Ngôi Lời mang lấy một khuôn mặt, Thiên Chúa vô hình để cho mình được nhìn thấy, cảm nhận và chạm vào, như chính thánh Gioan đã viết (x. 1Ga 1,1-3). Lời nói chỉ hiệu quả khi nó được "nhìn thấy", chỉ khi nó liên quan đến chúng ta qua kinh nghiệm, qua cuộc đối thoại. Vì lý do này, "đến và xem" đã và tiếp tục là điều cần thiết.

Chúng ta hãy nghĩ về bao nhiêu lời hùng biện trống rỗng, ngay cả trong thời đại của chúng ta, trong mọi lĩnh vực của đời sống công cộng, trong thương mại cũng như trong chính trị. Người này hay người kia “nói không ngừng và không nói gì”. Các lý luận của anh ta như là hai hạt lúa mì trong hai giạ trấu. Bạn phải tìm kiếm cả ngày để tìm ra chúng, và khi tìm thấy chúng, chúng không đáng để tìm kiếm.[2] Những lời đả kích của nhà viết kịch người Anh cũng có giá trị đối với những nhà truyền thông Ki-tô giáo chúng ta. Tin mừng của Phúc Âm đã lan rộng khắp thế giới nhờ những cuộc gặp gỡ giữa người với người, từ trái tim đến trái tim, với những người nam nữ, những người chấp nhận lời mời “đến và xem”, và bị đánh động bởi tình người mạnh mẽ, tỏa sáng qua cái nhìn, lời nói và cử chỉ của những người làm chứng cho Chúa Giê-su Ki-tô. Tất cả các công cụ đều quan trọng, và người giao tiếp vĩ đại tên là Phao-lô thành Tarso chắc chắn sẽ sử dụng e-mail và tin nhắn xã hội. Tuy nhiên, chính đức tin, niềm hy vọng và lòng bác ái của ngài đã gây ấn tượng với những người đương thời, những người đã nghe ngài giảng và may mắn có thời gian ở bên ngài, gặp ngài trong một buổi họp mặt hoặc trong một cuộc trò chuyện riêng. Ngắm nhìn ngài làm việc ở bất cứ nơi đâu, chính họ cũng đều thấy sứ điệp cứu độ mà ngài rao giảng với ơn Chúa thật sự hiệu quả cho cuộc sống của họ. Và ngay cả khi người ta không thể gặp trực tiếp người tôi tớ này của Thiên Chúa, các môn đệ được thánh nhân sai đi đã làm chứng cho cách sống của ngài trong Chúa Ki-tô (x. 1Cr 4,17).

 “Trong tay chúng ta có những cuốn sách, nhưng sự thật ở trước mắt chúng ta,” thánh Augustinô đã nói về việc hoàn thành những lời tiên tri được tìm thấy trong Sách Thánh. Vì vậy, Tin Mừng cũng trở nên sống động trong thời đại của chúng ta, bất cứ khi nào chúng ta chấp nhận lời làm chứng thuyết phục của những người đã thay đổi cuộc sống nhờ cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu. Từ hơn hai thiên niên kỷ qua, một chuỗi các cuộc gặp gỡ như vậy đã truyền tải sức hấp dẫn của cuộc phiêu lưu Ki-tô giáo. Do đó, thách đố đang chờ chúng ta là truyền thông bằng cách gặp gỡ mọi người trong thực tại của họ.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con đi ra khỏi chính mình,

và lên đường tìm kiếm sự thật.

Xin dạy chúng con đi và nhìn xem,

xin dạy chúng con lắng nghe,

không nuôi dưỡng những thành kiến,

hay đưa ra những kết luận vội vàng.

Xin dạy chúng con đi đến nơi mà không ai muốn đi,

dành thời gian để hiểu,

chú ý đến điều thiết yếu,

không bị phân tâm bởi những thứ không cần thiết,

phân biệt vẻ ngoài lừa dối với sự thật.

Xin ban cho chúng con ân sủng để nhận ra nơi cư ngụ của Ngài trên thế giới của chúng con

và sự trung thực để nói với người khác những gì chúng con đã thấy.

Roma, đền thờ thánh Gioan Laterano, ngày 23 tháng 1 năm 2021,

Ngày trước lễ nhớ thánh Phanxicô đệ Salê

 

[1] Nhà báo người Tây Ban Nha, sinh năm 1920 và qua đời năm 1971, được tuyên phong chân phước năm 2010.

[2] WILLIAM SHAKESPEARE, Người lái buôn thành Venice, phần I, cảnh I.

Vatican News Tiếng Việt

Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

ĐỨC THÁNH CHA CHÍNH THỨC THIẾT LẬP THỪA TÁC VỤ GIÁO LÝ VIÊN CỦA GIÁO DÂN

 

Ngày 11/5 hôm qua Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tông thư dưới dạng Tự sắc, có tên “Antiquum ministerium” – Thừa tác vụ cổ kính, qua đó ngài chính thức thiết lập thừa tác vụ giáo lý viên của giáo dân, vì nhu cầu khẩn thiết của việc loan báo Tin Mừng trong thế giới hiện nay.



Khởi đầu từ các cộng đoàn Giáo hội sơ khai

Thừa tác vụ dạy giáo lý là một thừa tác vụ mới được Đức Thánh Cha thiết lập, nhưng lại có nguồn gốc từ rất lâu đời, từ thời Tân Ước. Tin Mừng thánh Luca (Lc 1,3-4) và các thư của thánh Phao-lô gửi cộng đoàn Corintô (1 Cr 12,28-31) và Galati (Gl 6,6) đã nói về hình thức khởi đầu của sứ vụ này (số 1).

Đức Thánh Cha nhận xét: “Do đó, trong truyền thống vĩ đại có tính đặc sủng của Tân Ước, có thể nhận ra sự hiện diện tích cực của những người đã được rửa tội, những người đã thi hành thừa tác vụ truyền dạy giáo huấn của các tông đồ và các thánh sử một cách có cơ cấu hơn, bền vững hơn và liên kết với các hoàn cảnh khác nhau của đời sống (Dei Vervum 8). Giáo hội muốn nhìn nhận công việc phục vụ này như là một biểu hiện cụ thể của đặc sủng cá nhân, trợ giúp rất nhiều cho việc thực thi sứ mệnh loan báo Tin Mừng của Giáo hội” (số 2).

Vai trò của giáo dân trong giáo huấn của Đức Pio XII

Quyết định thành lập thừa tác vụ giáo lý viên của giáo dân là kết quả của một hành trình xuất phát từ trực giác của Đức Pio XII, và được Công đồng Vatican II và được các Thượng Hội đồng Giám mục, đặc biệt là Thượng Hội đồng Giám mục về miền Amazon nhìn nhận.

Năm 1944, trong thông điệp Mystici corporis – Thân thể Mầu nhiệm, nói về Giáo hội – Thân thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, Đức Pio XII đã nói đến những người cha người mẹ của các gia đình, cha mẹ đỡ đầu, và đặc biệt là những giáo dân cộng tác với hàng giáo phẩm trong Giáo hội trong việc mở rộng Vương quốc của Đấng Cứu Chuộc, giữ một vị trí quan trọng trong xã hội Ki-tô giáo, và được Thiên Chúa linh hứng và trợ giúp, họ có thể tiến đến đỉnh cao nhất của sự thánh thiện.”

Chứng tá đức tin của giáo dân

Nhận xét về vai trò của các giáo lý viên, trong số 3 của Tự sắc Đức Thánh Cha viết rằng “Toàn bộ lịch sử loan báo Tin Mừng trong hai thiên niên kỷ này cho thấy bằng chứng tuyệt vời về sự hiệu quả của sứ mệnh của các giáo lý viên”, những người đã đảm bảo rằng “đức tin là chỗ dựa vững chắc cho đời sống cá nhân của mỗi con người”. Nhiều người nam nữ trình bày một đức tin vĩ đại và những chứng tá đích thực của sự thánh thiện, thậm chí đến mức hiến dâng mạng sống.

Ngay cả ngày nay, "nhiều giáo lý viên có khả năng và kiên cường” thực hiện “sứ mệnh không thể thay thế trong việc truyền bá và đào sâu đức tin”, trong khi "một đội quân đông đảo" các giáo lý viên được tuyên phong chân phước, hiển thánh và tử đạo “đã đánh dấu sứ mạng của Giáo hội ”, tạo nên “một nguồn phong phú cho toàn bộ lịch sử tu đức Ki-tô giáo” (số 3).

Giáo hội nhìn nhận sự hiện diện và vai trò của giáo dân trong Giáo hội

Đức Thánh Cha nhắc rằng từ Công Đồng Vatican II, Giáo hội  gia tăng nhận thức về tầm quan trọng của giáo lý viên trong việc loan báo Tin Mừng, cũng như cần thiết cho sự phát triển của cộng đồng Kitô hữu. Đức Thánh Cha nhắc lại sắc lệnh Ad gentes – Đến với Muôn dân – của Công đồng Vatican II, trong đó khẳng định rằng đội ngũ các giáo lý viên, với công việc truyền giáo hiệu quả giữa người ngoại giáo, rất đáng khen ngợi. “Được linh hứng bởi tinh thần của các tông đồ họ hy sinh đóng góp cụ thể và không thể thay thế cho việc truyền bá đức tin và Giáo hội.” Tài liệu khẳng định rằng trong hoàn cảnh thiếu các linh mục để loan báo Tin Mừng và thi hành sứ vụ mục vụ, nhiệm vụ của giáo lý viên vô cùng quan trọng (Ad gentes, 17) (số 4).

Trong số 5 của Tự sắc, Đức Thánh Cha nói rằng “cần nhìn nhận sự hiện diện của các giáo dân nam nữ, những người nhờ bí tích rửa tội họ cảm thấy mình được mời gọi cộng tác vào việc dạy giáo lý.” Điều này không ảnh hưởng gì đến sứ mệnh của Giám mục với tư cách là giáo lý viên chính trong Giáo phận của mình, nhiệm vụ mà ngài chia sẻ với các linh mục, hoặc trách nhiệm đặc biệt của các bậc cha mẹ đối với việc đào tạo Kitô giáo cho con cái của họ,

Đức Thánh Cha nhận định: “Ngày nay, sự hiện diện này càng cấp thiết hơn do chúng ta ngày càng nhận thức được việc loan báo Tin Mừng cho thế giới (Evangelii Gaudium, 163-168), và sự trỗi dậy của một nền văn hóa toàn cầu hóa (Fratelli Tutti 100, 138) (số 5)

Ơn gọi biến đổi xã hội bằng các giá trị Ki-tô giáo của giáo lý viên

Ơn gọi loan báo Tin Mừng là tiếng gọi của Chúa Thánh Thần dành cho mỗi người để họ lên đường “gặp gỡ những người đang chờ đợi được biết chân thiện mỹ của đức tin Ki-tô giáo”. Do đó, theo Đức Thánh Cha, nhiệm vụ của các mục tử là hỗ trợ hành trình này và làm phong phú đời sống của cộng đoàn Ki-tô giáo bằng việc công nhận các thừa tác vụ giáo dân có khả năng đóng góp vào sự biến đổi xã hội thông qua “sự thâm nhập của các giá trị Ki-tô giáo vào thế giới xã hội, chính trị và kinh tế” (Evangelii gaudium, 102) (số 5)

Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh rằng giáo lý viên là chứng tá đức tin, người thầy, nhà sư phạm, người đồng hành và nhà mô phạm, được kêu gọi tham gia vào công việc mục vụ là truyền đạt đức tin từ lời loan báo đầu tiên – Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa đã chết và sống lại để cứu độ chúng ta, đến việc chuẩn bị cho các bí tích khai tâm Kitô giáo, cho đến việc đào tạo trường kỳ. Tất cả những điều này chỉ có thể thực hiện được “nhờ cầu nguyện, học hỏi và tham gia trực tiếp vào đời sống cộng đoàn”, để căn tính của giáo lý viên phát triển với “sự nhất  quán và trách nhiệm” (số 6).

Không "giáo sĩ hóa" giáo lý viên

Theo giáo huấn của các Công đồng, các Thượng Hội đồng giám mục, cũng như của các Giáo hoàng, đặc biệt là Đức Phanxicô, các giáo dân không chỉ được kêu gọi thực hiện công việc thay thế vì thiếu ơn gọi linh mục, nhưng là hoạt động cách trọn vẹn và ý thức, tham gia và đồng trách nhiệm: sự hiện diện của họ thực sự cần thiết để Giáo hội hiệp thông và truyền giáo.

Qua dòng lịch sử, khi không có linh mục, đức tin vẫn được duy trì là nhờ những người cha, người mẹ, và những giáo lý viên đã dành thời gian và thường xuyên hy sinh cuộc sống cho điều này. Tuy nhiên, thừa tác vụ được thực hiện vì cộng đoàn, giúp phát triển đời sống của cộng đoàn và vì chứng tá đức tin của cộng đoàn. Do đó, thiết lập một thừa tác vụ giáo dân không có nghĩa là “giáo sĩ hóa” giáo dân.

Thật vậy, việc lãnh nhận thừa tác vụ giáo lý viên “nhấn mạnh nhiều hơn đến sự dấn thân truyền giáo đặc trưng của mỗi người đã được rửa tội”. Đức Thánh Cha khuyên rằng nó phải diễn ra “theo cách hoàn toàn của giáo dân, không rơi vào bất kỳ biểu hiện nào của chủ nghĩa giáo sĩ trị” (số 7).

Các yêu cầu đối với giáo lý viên

Trong số 8 của Tự sắc,  Đức Thánh Cha lưu ý rằng thừa tác vụ giáo lý viên của giáo dân cũng có “một giá trị ơn gọi mạnh mẽ”, “là việc phục vụ ổn định dành cho Giáo hội địa phương”, đòi hỏi “sự phân định cần thiết từ phía giám mục”. Đồng thời Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng các giáo lý viên phải là những người nam nữ “có đức tin sâu sắc và trưởng thành nhân bản”; tham gia tích cực vào đời sống của cộng đoàn Ki-tô giáo; có khả năng “chấp nhận, quảng đại và sống hiệp thông huynh đệ”; được đào tạo về Kinh Thánh, thần học, mục vụ và sư phạm; đã có kinh nghiệm trong việc dạy giáo lý; cộng tác trung thành với các linh mục và phó tế, cũng như "được hướng dẫn bởi lòng nhiệt thành tông đồ thực sự”.

Nghi thức Thiết lập thừa tác vụ giáo lý viên

Sau khi suy tư về mọi khía cạnh, Đức Thánh Cha tuyên bố thiết lập thừa tác vụ giáo lý viên của giáo dân và truyền rằng Bộ Phụng tự và kỷ luật Bí tích sẽ công bố trong thời gian ngắn Nghi thức Thiết lập thừa tác vụ này (số 8).

Nhiệm vụ của các giám mục

Đức Thánh Cha mời gọi các Hội đồng Giám mục “làm cho thừa tác vụ giáo lý viên trở nên hiệu quả” bằng cách thiết lập chương trình đào tạo và các quy chế cần thiết cho phép thi hành thừa tác vụ này, tìm những hình thức phù hợp nhất cho việc thực thi thừa tác vụ mà những người được mời gọi thực hiện cách phù hợp với nội dung của Tự sắc (số 9).

Nhìn nhận thừa tác vụ và đặc sủng của giáo dân

Cuối cùng, Đức Thánh Cha nhắc với các giám mục lời của Công đồng, trong khi thực hiện nhiệm vụ cao cả là chăn dắt các tín hữu, các ngài cũng nhìn nhận các thừa tác vụ và đặc sủng của các tín hữu để tất cả theo những cách riêng biệt, nhưng đồng tâm, có thể hợp tác trong nhiệm vụ chung (Lumen Gentium, 30 ). Và Đức Thánh Cha cầu xin với ơn Chúa Thánh Thần, các giám mục sẽ làm cho thừa tác vụ Giáo lý viên của giáo dân mang lại hiệu quả cho sự phát triển của cộng đoàn (số 11).


Hồng Thủy - Vatican News


Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2021

HOA TRÁI TỐT LÀNH

 “Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.” (Ga 15,8)

Cành nho chỉ sinh được nhiều hoa trái nếu gắn liền với cây nho, được cắt tỉa, vun tưới, chăm sóc. Đời sống người Ki-tô hữu cũng sinh nhiều hoa trái tốt lành thánh thiện nếu gắn kết với nguồn mạch sự sống của mình là Đức Ki-tô, mà hai đường huyết mạch cung cấp dưỡng chất thiêng liêng cho linh hồn là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa. Đồng thời cành nho linh hồn còn phải được cắt tỉa khỏi những rườm rà và sâu bệnh của tinh thần thế tục, hầu sự sống từ nơi Chúa không bị thất thoát nhưng được tập trung tối đa để sinh nhiều hoa trái tốt lành.

Nếu người nào tách ra khỏi Chúa, họ sẽ thiếu sức sống của Ngài, linh hồn trở nên èo uột, ốm yếu, và như một lẽ đương nhiên, mất dần khả năng đề kháng trước sự tấn công của vi-rút tội lỗi. Mời bạn mỗi ngày dành thời gian suy niệm Lời Chúa, để sống những giá trị Tin Mừng trước những mời mọc quyến rũ của thế gian. Và đồng thời, thường xuyên bồi dưỡng linh hồn mình bằng lương thực thần linh là chính Thánh Thể Chúa Ki-tô.

Lạy Chúa, xin cho con luôn kết hiệp với Chúa, và xin Chúa thanh luyện con, con mạnh mẽ vượt qua những trở ngại bản thân, sống sung mãn nhờ sức sống của Chúa và chia sẻ cho người khác. Amen.

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

ƠN THIÊN TRIỆU DÀNH CHO NHỮNG AI?

 


Trong bài giảng ngày Chúa nhật cầu nguyện cho ơn thiên triệu, Cha xứ mời tất cả Tu sĩ lên cung thánh để các em thiếu nhi chiêm ngưỡng cũng như ươm mầm ơn gọi. Cha đặt 1 câu hỏi: "Lý do gì khiến quý Thầy, quý Soeurs đi tu?" để giải đáp cho thiếu nhi biết ơn gọi dâng hiến thật sự rất gần gũi với mỗi người.
Một thầy dòng Thánh Tâm Huế trả lời: "Do con bị thất tình, người yêu bỏ nên đi tu, nhưng khi dấn bước trên con đường tu trì thì thấy mình càng ngày càng hạnh phúc và đẹp trai hơn", thầy dòng Hiến sĩ Đức Mẹ trình bày: "Do yêu mến Chúa nên muốn sống đời sống dâng hiến", thầy dòng Ngôi Lời chia sẻ: "Do nhà quá nghèo và thấy mọi người lao động cực khổ nên đi tu để thoát khỏi cảnh vất vả ở ngoài đời". Còn các Soeur thì chia sẻ như: "Vì  từ nhỏ ông ngoại hay khuyên đi tu và vì con thích phục vụ người nghèo nên con chọn dòng theo linh đạo của mẹ Teresa Calcutta", "lúc đầu không thích đi tu nhưng khi mẹ hối lấy chồng thì sợ quá nên đi tu"...
Tất cả các lý do trên xem ra có vẻ trần thế nhưng một cách nào đó chính là ơn gọi Chúa gieo vào mỗi con người. 
Ơn gọi thánh hiến không phải chỉ dành cho những người cao siêu, đạo đức, Chúa chọn gọi chúng ta vì Chúa muốn thế. Trong những biến cố đời thường xảy đến với mỗi người biết đâu lại có tiếng Chúa gọi sống đời dâng hiến.
Ơn thiên triệu không dành riêng cho một ai mà là dành cho tất cả mọi người, vì thế nếu yêu mến đời sống thánh hiến thì cứ nuôi dưỡng, quan trọng hơn cả là từ phía gia đình cần ươm mầm ơn gọi cho các em qua việc cầu nguyện sớm tối, năng tham dự các Bí tích và học hiểu giáo lý.